Chân dung Đức Phật Thích Ca lúc khoảng 41 tuổi do đệ tử của Ngài là Phú-lâu-na (Purna) vẽ

Thập nhị nhân duyên

Và chủ trương

Vô Ngă

Bối cảnh lịch sử đất nước Ấn độ:

 

Lịch sử Ấn Độ bắt đầu với thời kỳ Văn minh lưu vực sông Ấn Độ, một nền văn minh phát triển hưng thịnh tại phần Tây Bắc tiểu lục địa Ấn Độ từ năm 3300 đến 1700 trước công nguyên. Nền văn minh thời đại đồ đá này được nối tiếp bởi thời đại đồ sắt thuộc thời kỳ Vệ Đà. Thời kỳ này, Kinh Vệ Đà (Veda) xem như là cỗi gốc của Bà La Môn Giáo và là suối nguồn của nền văn minh Ấn. Trong kinh có những bản thánh ca để ca tụng các vị thần, như thần lửa, thần núi, thần sông ... Tôn giáo chính chi phối nhiều nhất là Bà La Môn Giáo (Ngoài ra có 5 tôn giáo khác và 6 tư tưởng tôn giáo không hính thống được gọi là ngoại đạo)

Theo tŕnh tự thời gian, tư tưởng Vệ Đà đă đạt tới quan niệm một đấng Thượng Đế hữu ngă sáng tạo vũ trụ và một bản thể tuyệt đối vô ngă làm cội nguồn chung cho vũ trụ. Tuy nhiên, trên đại thể, kinh Vệ Đà vẫn thiên trọng về quan niệm một đấng Thượng Đế hữu ngă hơn.

Thời Vệ Đà Thiên Thư, dân chúng sùng bái cúng tế để cầu xin sự trợ giúp của các thần linh, h́nh thức phần chính thuộc về Đa Thần giáo. Sang thời kỳ Phạm Thiên Thư, tín đồ chán việc tế lễ và thờ tự nhiều Thần, nên tuyển lọc lại vài vị Thần quan trọng để phụng thờ, sau thờ một Thần là đấng Phạm Thiên (Brahma), vị thần tối cao toàn năng, siêu việt, sáng tạo ra vạn vật vũ trụ. Thế là đối tượng tín ngưỡng của đa phần dân Ấn Độ chuyển từ Đa thần giáo sang Nhất thần giáo. Qua đến thời kỳ Áo Nghĩa Thư không chỉ giới hạn trong nghi thức tế tự, mà bao gồm môn triết học cao siêu.

Nội dung căn bản của Áo Nghĩa Thư cho rằng con người, cũng như mọi chúng sinh đều có một tự thể bất sinh, bất diệt, thường tịch và vô trụ như Bản thể tuyệt đối, thường được gọi là Atman hay Tiểu ngă (một linh hồn bất diệt). Khi tự ngă của con người hay của chúng sinh chưa hoà nhập với Bản thể tuyệt đối (Brahman, đấng Phạm Thiên hay Đại Ngă), th́ Tự ngă của con người vẫn c̣n phải luân hồi trong ṿng sinh tử. Họ chủ trương “Brahma-Atman đồng nhất” và con người giải thoát là con người hoà đồng vào bản thể của vũ trụ. Tiểu Ngă hoà đồng với Đại Ngă vô biên trong một trạng thái hằng hữu vĩnh cửu.

Trên địa hạt xă hội, theo tôn giáo Bà La Môn kết hợp truyền thuyết thần thọai chattuvanna, dân chúng Ấn Độ hồi đó được phân chia thành bốn giai cấp:

1.Bà-la-môn (Brahman) gồm những Giáo-sĩ, những người giữ quyền thống-trị tinh-thần, phụ-trách về lễ-nghi, cúng bái. Họ tự nhận ḿnh là hạng cao-thượng, sinh từ lỗ miệng Phạm Thiên (Brahma) hay Phạm-Thiên cầm cương lănh đạo tinh-thần dân-tộc, nên có quyền ưu-tiên được tôn-kính, và an-hưởng cuộc đời sung-sướng nhất.

2. Sát-đế-ly (Kshastriya) là hàng vua chúa quư-phái, tự cho ḿnh sinh từ cánh tay Phạm-Thiên, thay mặt cho Phạm-Thiên nắm giữ quyền-hành thống-trị dân-chúng.

3. Vệ-Xá (Vaisya) là nhữnh hàng thương-gia chủ-điền, tin ḿnh sinh ra từ bắp vế Phạm-Thiên, có nhiệm-vụ đảm-đương về kinh-tế trong nước (mua bán, trồng-trọt, thu huê-lợi cho quốc-gia ).

4. Thu-Đà-La (Soudra) là hàng Hà-tiện, nô-lệ sinh từ gót chân Phạm-Thiên, nên thủ-phận làm khổ-sai suốt đời cho các giai-cấp trên.

5. Ba-ri-a (Pariah) giống người cùng khổ, bị coi như sống ngoài lề xă-hội loài người, bị các giai-cấp trên đối-xử như thú-vật, vô cùng khổ nhục, tối tăm.

Hệ thống giai cấp này theo chế độ cha truyền con nối, các người khác giai cấp không được cưới nhau, không được cùng nhau hành lễ tế tự và không được ăn chung bàn. Giai cấp Thủ Đà La là giai cấp cùng đinh bị khinh miệt và bị hành hạ, nên đời đời làm nô lệ phục vụ cho ba giai cấp trên. Giai cấp này bị khinh bỉ đến nỗi một người Thủ Đà La đến gần một giếng nước, thời giếng nước ấy xem như đă trở thành dơ bẩn, không dùng được cho ba giai cấp trên và người Thủ Đà La nào vi phạm tội ấy có thể bị ném đá cho đến chết. Chính sự kỳ thị này đă gây ra một tổ chức xă hội cực kỳ bất công. Cho đến cuối thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch đẳng cấp Bà La Môn hoàn toàn ngự trị trên toàn thể dân chúng Ấn, họ hợp nhất quyền lực chính trị vào quyền lực tôn giáo, đặt thêm nhiều nghi lễ tế tự phiền toái để trói buộc dân chúng nhằm củng cố giai cấp thống trị. Thời kỳ này có nhiều luận chấp về Tự Ngă và nảy sinh nhiều phe phái, từ những luận chấp về quá khứ, về tương lai, cho đến luận chấp về hiện tại Niết Bàn. Tất cả các luận chấp này đều dựa vào sự xúc đối phân biệt của sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư thức).

 

Trong điều kiện đó, Thập nhị nhân duyên và chủ trương Vô ngă là một bước đột phá hoàn toàn mới và đi ngược lại tư tưởng nhất thần của Áo nghĩa thư. Thập nhị nhân duyên và chủ trương Vô ngă chính là cốt lơi hay trí tuệ của Phật Giáo. Những lời dạy sau này của Đức Phật mà chúng ta kiết tập lại cũng chưa bao giờ rời xa triết lư này. Có thể nói, Thuyết thập nhị nhân duyên và chủ trương Vô ngă chính là bộ khung cơ thể và h́nh hài của Đạo Phật. Các lời dạy, thuyết giảng của Đức Phật như da thịt và các bộ phận trên cơ thể th́ các khái và luận Phật giáo như quần áo và phương tiện cho cơ thể đó. Bất cứ bộ quần áo nào hoặc phương tiện nào, không phù hợp với cơ thể trên, không thể xem là thuộc triết lư nhà Phật.

 

1. Thuyết duyên khởi (Thập nhị nhân duyên)

 

Trong thời gian thiền định dưới cội Bồ Đề, canh đầu tiên (từ 9 đến 12 giờ đêm) Thái Tử Sĩ Đạt Đa đă lần lượt đi ngược lại vô số kiếp của ḿnh, “Ta nhớ lại nhiều kiếp quá khứ mà ta đă trải qua: một đời, hai đời, ba, bốn, năm, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, một trăm, một ngàn, một vạn trong nhiều thành kiếp hoại kiếp của thế giới ... Ta biết: Ta đă ở nơi kia, tên họ như vậy, gia tộc như vậy, đẳng cấp như vậy, lối sống như vậy. Ta đă trải qua các sự rủi may của số phận như vậy và mệnh chung như vậy. Sau khi thân hoại, ta lại tái sanh nơi khác, với tên họ như vậy ... và rồi mệnh chung như vậy. Bằng cách này, ta nhớ lại các đời sống quá khứ với nhiều đặc điểm trong nhiều hoàn cảnh. Ta đạt được minh trí (vijjà) này trong canh đầu đêm”. 3 tiếng thiền định đầu tiên, ngài đă đạt được sự soi rơ về nhân quả các đời. Vậy với cơ chế và nguyên tắc như thế nào mà nhân quả xảy ra?

 

3 Tiếng tiếp theo(khoảng từ 1 đến 3 giờ sáng): “Với thiên nhăn thanh tịnh, siêu nhân, vượt tri kiến phàm tục, ta thấy cách chúng hữu t́nh sanh tử như thế nào. Ta thấy rơ cao sang hay hạ liệt, thông minh hay ngu đần, mỗi người đều được tái sanh cơi lành hay cơi dữ tùy theo hạnh nghiệp của ḿnh và ta biết rơ: “Những kẻ nào đă tạo ác nghiệp về thân, khẩu, ư, sau khi thân hoại mạng chung sẽ tái sanh vào khổ cảnh, chúng sẽ vào đọa xứ, địa ngục. Song những kẻ nào tạo thiện nghiệp về thân, khẩu, ư sẽ được tái sanh cơi lành, sẽ lên thiên giới” Vào canh giữa, Sa-môn Sĩ Đạt Đa đạt được minh trí thứ hai: là luật nhân quả về nghiệp (karma) theo đó thiện nghiệp đưa đến tái sanh cơi thiện và ác nghiệp đưa đến tái sanh cơi ác. Tiếp theo, ngài suy luận và tỉm con đường để giải thoát khỏi nghiệp qua việc hiểu biết về nguyên nhân của nghiệp và từ đó, t́m được con đường thoát nghiệp để thoát khỏi luân hồi. Cũng từ đây, ngài chủ trương “Vô Ngă” tức lành, ác tại chính bản thân con người chứ không phải do thần thánh hay thế lực siêu nhiên sắp đặt. Đây chính là cũng là giai đoạn Thái Tử minh xét và thấu hiểu về thập nhị nhân duyên trên cơ phát triển, bổ sung và hoàn chỉnh thuyết nhân duyên của Bà La Môn giáo và thuyết tứ đại của phái Thuận thế.

 

Khi tư duy về con người, Đức Phật trên cơ sở phát triển và đi sâu quán xét thuyết “Tứ Đại” của phái thuận thế, ngài nhận thấy:

 

Con người là một tổng thể bao gồm các phần thấy được, đụng chạm được và các phần không thấy được, không đụng chạm được. Đức Phật phân tích con người thành Ngũ Uẩn. Uẩn là một tập hợp, một nhóm. Ngũ Uẩn (năm tập hợp) đó là:

 

1) Sắc Uẩn: Tức Thân + Tâm (được cấu tạo bởi Tứ Đại là đất +nước + gió + lửa), Sắc Uẩn bao gồm các Giác Quan (Căn)

2) Thể Uẩn: Tức là những Cảm Thể (cảm giác nhận được) do sự tiếp xúc giữa 6 Căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư) và 6 Trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp)

3) Tưởng Uẩn: Tức là những Tư Duy phát sinh từ những Cảm Thể, tạo ra các Khái Niệm

4) Hành Uẩn: Sự Lưu Chuyển của các Khái Niệm, biến Khái Niệm thành Hành Động.

5) Thức Uẩn: Sự Nhận Biết và Phân Biệt các Khái Niệm. Riêng Thức Uẩn, Phật giáo Đại Thừa sau này chia chi tiết làm 8 Thức khác nhau:

a) Nhăn Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do mắt nh́n thấy vạn vật.

b) Nhĩ Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do tai nghe từ vạn vật.

c) Tỷ Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do mũi ngữi được từ vạn vật.

d) Thiệt Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do lưỡi nếm lấy từ vạn vật.

e) Thân Thức là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm do thân thể tiếp xúc với vạn vật.

f) Ư Thức (Đại thừa Phật giáo chia ra chi tiết thành 3 thức so với tiểu thừa) là sự nhận biết và phân biệt các khái niệm tổng hợp từ các khái niệm do 5 thức trên đem lại.

g) Mạt Na Thức (Manas Vijnăna) c̣n gọi là Ư Căn, là nơi phát sinh ra Ư Thức. Mạt Na Thức truyền các hệ quả (hạt giống - chủng tử) của những Khái Niệm đă biến thành hành động (pháp hiện hành) vào Tàng Thức và tống đưa các hệ quả đă nhuần thấm, chín mùi ra hiện hành, nên c̣n được gọi là Tống Truyền Thức. Mạt Na Thức khiến chúng sinh nh́n thấy một ảo giác về Ngă, là gốc của sự Chấp Ngă, là nguồn gốc của 4 phiền năo căn bản:

Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo